Đổi thay ở vùng đồng bào dân tộc Khmer. Ảnh: TLTừ chủ trương lớn đến yêu cầu thực tiễn
Thực tiễn hơn hai thập niên triển khai Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc đã khẳng định tính đúng đắn, nhất quán trong đường lối của Đảng: quan tâm, chăm lo, tạo điều kiện để đồng bào DTTS phát triển toàn diện, bình đẳng, đoàn kết và cùng tiến bộ. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới với những biến động nhanh, phức tạp của kinh tế - xã hội, yêu cầu tinh gọn bộ máy, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cùng tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế đang đặt ra đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ chính sách dân tộc và tôn giáo.
Đổi mới chính sách dân tộc và tôn giáo trước hết phải đổi mới từ tư duy và cách tiếp cận: từ “ban hành nhiều chương trình, nhiều chính sách” sang thiết kế tích hợp, đồng bộ, toàn diện các chương trình giảm nghèo, nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS; từ hỗ trợ manh mún sang phát triển bền vững; từ quản lý theo đầu vào sang quản trị theo kết quả;” từ mục tiêu ngắn hạn sang tầm nhìn dài hạn cho cả một thế hệ.
Đồng thời, cần thay đổi từ "quản lý" sang "phục vụ và kiến tạo" thay vì chỉ dừng lại ở việc quản lý hành chính, Nhà nước chuyển mạnh sang vai trò kiến tạo môi trường để đồng bào các dân tộc và tôn giáo phát triển. Việc thành lập Bộ Dân tộc và Tôn giáo (năm 2025) là một dấu mốc lịch sử, hợp nhất và nâng tầm cơ quan quản lý để đồng bộ hóa các chính sách, giảm chồng chéo và tập trung nguồn lực. Trong đó chủ thể là người dân: Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là trung tâm, là chủ thể thực hiện và giám sát chính sách theo phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng."
Lấy hiệu quả đời sống người dân làm thước đo cao nhất
Phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn mới được xác định theo ba trụ cột: toàn diện - nhanh - bền vững. Toàn diện là phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và con người, gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Nhanh là tạo chuyển biến rõ rệt ở những “điểm nghẽn” then chốt về thể chế, chính sách, nguồn lực trong giải quyết các vấn đề về hạ tầng, sinh kế, việc làm, giáo dục và y tế cơ sở. Bền vững là giảm nghèo đa chiều một cách căn cơ, nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.
Theo đó, ưu tiên hàng đầu là thu hẹp khoảng cách phát triển vùng đồng bào DTTS với vùng kinh tế phát triển. Tập trung tháo “nút thắt” hạ tầng và sinh kế. Ưu tiên kết nối giao thông, điện, viễn thông, hạ tầng phục vụ sản xuất - lưu thông; gắn đầu tư hạ tầng với quy hoạch phát triển vùng, liên vùng. Chú trọng phát triển sinh kế bền vững, tăng thu nhập bằng chuỗi giá trị và việc làm ổn định. Khuyến khích liên kết doanh nghiệp - hợp tác xã - hộ dân; phát triển ngành nghề phù hợp với địa phương; đào tạo nghề gắn với thị trường lao động.
An sinh xã hội và giảm nghèo bền vững phải chuyển từ hỗ trợ ngắn hạn sang hệ sinh thái an sinh toàn diện, lâu dài: nhà ở an toàn, y tế dự phòng, giáo dục chất lượng, sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu. Chính sách phải đảm bảo đi vào từng hộ, từng bản, đặc biệt là hộ nghèo, phụ nữ và trẻ em dân tộc thiểu số.
Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch cộng đồng sẽ giúp đồng bào vừa giữ gìn bản sắc, vừa nâng cao đời sống. Đồng thời, chú trọng phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, đặc biệt là đào tạo đội ngũ cán bộ là người DTTS, duy trì tốt tiếng nói, chữ viết dân tộc. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi đó là nhu cầu tinh thần chính đáng của Nhân dân.
Phát huy vai trò của con người và sức mạnh đại đoàn kết
Trong mọi chính sách, con người luôn là trung tâm, là chủ thể và cũng là mục tiêu cuối cùng. Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, Người có uy tín và chức sắc tôn giáo chính là phát huy “nguồn lực mềm” quan trọng để chính sách đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, trong bối cảnh thông tin đa chiều, việc tăng cường đối thoại, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, đấu tranh với các luận điệu sai lệch là nhiệm vụ thường xuyên. Củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc được xem như xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; ở đó, chính sách không chỉ là đầu tư vật chất, mà còn bằng sự tôn trọng, lắng nghe và đồng hành cùng người dân.
Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội mới để nâng cao hiệu quả công tác dân tộc và tôn giáo. Xây dựng hệ dữ liệu dùng chung, bảo đảm “đúng - đủ - sạch - sống” sẽ giúp quản lý, dự báo và hoạch định chính sách chính xác hơn, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Khi dịch vụ công trực tuyến được đưa đến tận thôn, bản, “con đường về bản” không chỉ là con đường bê tông, mà còn là con đường số, giúp đồng bào tiếp cận bình đẳng với thành quả phát triển của đất nước.
Trên hết, thành công của chính sách phải được đo bằng kết quả thực chất: tỷ lệ nghèo đa chiều giảm bền vững, chất lượng dịch vụ công được nâng lên, niềm tin của người dân được củng cố, mức độ hài lòng tăng lên và khoảng cách phát triển giữa miền núi với đồng bằng được thu hẹp rõ rệt. Đó chính là thước đo khách quan và cũng là mục tiêu cao nhất của đổi mới chính sách dân tộc và tôn giáo trong giai đoạn mới.
Trước thềm Xuân mới, với những quyết sách mới của Đại hội lần thứ XIV của Đảng, chúng ta càng có niềm tin vững chắc vào tương lai về một Việt Nam độc lập, tự cường, đổi mới, phát triển, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc, nơi mọi dân tộc và tôn giáo đều có cơ hội phát triển, bản sắc văn hóa được bảo tồn và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực mạnh mẽ để đất nước hội nhập và vươn lên.