Nghệ sĩ Đoàn Thanh Quảng, Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh, TP. Đà Nẵng vào vai diễn tuồng trên sân khấuNghệ thuật tuồng được hình thành từ trò diễn xướng dân gian, thăng hoa trong đời sống cộng đồng. Vùng đất Bình Định, Quảng Nam (cũ), chiếc nôi của tuồng Trung Bộ đã nuôi dưỡng biết bao thế hệ nghệ sĩ tài danh. Từ mảnh đất ấy, những tên tuổi lớn đã bước ra sân khấu, trong đó có Nguyễn Hiển Dĩnh - người để lại dấu ấn sâu đậm và được tri ân bằng Nhà hát Tuồng mang tên ông tại Đà Nẵng.
Xưa kia, lớp nghệ sĩ hát bội trưởng thành trong kháng chiến, vừa diễn, vừa làm đạo diễn, vừa giảng dạy, tạo nên thời kỳ vàng son của nghệ thuật tuồng. Cố Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Thành Tôn, một nghệ sĩ hát bội được coi là “tượng đài lớn” của sân khấu truyền thống Việt Nam từng nói: “Hát bội có nguồn gốc từ trên trời”, ý chỉ sự uy nghi và rực rỡ của phục trang, hóa trang như bước ra từ chốn thiên đình. Tuồng cổ xoay quanh những giá trị Trung - Hiếu - Tiết - Nghĩa, đề cao đạo lý thầy - trò, hiếu kính cha mẹ, tình bằng hữu và lòng trung quân ái quốc - những giá trị đã nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ.
Những vai diễn bất hủ như “Ông già cõng vợ đi xem hội”, “Hồn Nguyệt cô hóa cáo” của NSND Đàm Liên từng đưa tuồng Việt Nam vươn ra thế giới, trở thành biểu tượng của sức sống sân khấu truyền thống. Theo nghệ sĩ - đạo diễn Đặng Bá Tài (Nhà hát Tuồng Việt Nam), thời hoàng kim ấy còn được khẳng định qua những chuyến lưu diễn tại Pháp, Maroc, Bỉ…
Ở vùng Bình Định, Quảng Nam, Đà Nẵng cũ hay nhiều vùng nông thôn miền Trung, tuồng vẫn là món ăn tinh thần trong các lễ hội đình làng. Nhiều địa phương mỗi năm đều trích kinh phí để các đoàn tuồng biểu diễn phục vụ Nhân dân, đó là minh chứng cho sức sống bền bỉ của loại hình nghệ thuật này.
Đó là tuồng của hôm qua. Còn hôm nay?
Giữa đời sống hiện đại, khi mỗi chiếc điện thoại có thể thay thế cả một rạp hát, khán giả của tuồng ngày càng thưa vắng. Sân khấu tuồng ít khi sáng đèn, nguồn thu từ biểu diễn không còn, và có thì cũng không bao giờ đủ bù chi phí phục trang, luyện tập, nhạc công... Nhiều nghệ sĩ cả đời cống hiến vẫn không thể sống bằng nghề, buộc phải mưu sinh bằng nhiều nghề khác nhau. Nhưng lửa nghề trong họ chưa bao giờ tắt.
Gia đình nghệ sĩ Thu Trang với Đoàn tuồng Sông Thu Đà Nẵng là một ví dụ sống động. 5 anh em đều theo nghề, vừa may trang phục, làm đạo cụ, vừa rong ruổi biểu diễn tại các lễ hội xa gần. NSƯT Thu Trang sẵn sàng nhận mọi vai, kể cả vai Tướng Tổng Quản trong tang lễ để nuôi nghề.
Con trai chị là Quốc Hưng, sinh năm 2006 đã từng theo mẹ lên sân khấu khi 10 tuổi. Chính những “mầm non” ấy khiến chị tin rằng, “tuồng chưa bao giờ mất đi, chỉ cần còn một người xem, nhịp trống chầu vẫn còn lý do để vang lên”.
Một buổi biểu diễn tuồng (hát bội) tại Lăng Ông Bà Chiểu, lăng mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh TLThách thức lớn nhất của tuồng hôm nay không chỉ là thiếu nghệ sĩ hay sân khấu khó khăn, mà là do thiếu lớp khán giả mới. NSND Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Sân khấu quốc tế Việt Nam nhiều lần nhấn mạnh: Muốn tuồng phát triển bền vững, phải đồng thời đào tạo nghệ sĩ và đào tạo khán giả trẻ. Khán giả không hiểu tuồng, tuồng sẽ không thể tồn tại.
Nhà báo - NSND Huỳnh Hùng, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Đà Nẵng, nguyên Giám đốc VTV8 cho rằng, Việt Nam cần mạnh dạn đưa tuồng vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cần được bảo vệ khẩn cấp, đồng thời có cơ chế hỗ trợ nghệ sĩ giống như Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia đã làm. Khi đời sống người làm nghề được bảo đảm, họ mới toàn tâm truyền nghề và sáng tạo.
Thực tế hôm nay, tuồng đang sống bằng tình yêu nghề nhiều hơn bằng cơ chế, nhưng đã đến lúc phải thẳng thắn: Tuồng không thể tự nuôi mình theo thị trường mà không đánh mất tinh hoa. Cần một hành lang chính sách đủ mạnh để bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật quý báu này.
Dẫu vậy, cơ hội vẫn luôn mở ra: Đưa tuồng vào học đường; phục dựng các đêm diễn trong không gian đình làng; khai thác du lịch văn hóa; xây dựng lớp nghệ sĩ, khán giả trẻ; ứng dụng công nghệ để lưu trữ, truyền bá các tích cổ... Giữ tuồng không chỉ là giữ một bộ môn nghệ thuật, mà như giữ một phần căn cước của văn hóa Việt.
Và chừng nào nhịp trống chầu còn vang lên trong mỗi mùa lễ hội, chừng nào những nghệ sĩ của Đoàn tuồng Sông Thu Đà Nẵng còn bền bỉ bước ra sân khấu, chúng ta vẫn có quyền tin rằng tuồng giữa đời sống hiện đại vẫn tìm được con đường phát triển. “Dù ai buôn bán nơi đâu/Nghe nhịp trống chầu xuôi ngược về xem”.