Làng Kon Tu Ma - nơi sinh sống lâu đời của hơn 50 hộ người Xơ Đăng vẫn giữ nếp sống bình dị, hài hòa với thiên nhiênNhịp sống văn hóa hồi sinh
Vượt qua cung đường uốn lượn quanh những cánh rừng nguyên sinh, làng Kon Tu Ma, xã Măng Đen thấp thoáng dưới những áng mây lơ lửng và làn sương sớm mờ ảo. Một ngôi làng yên bình và giàu bản sắc của người Xơ Đăng đang hồi sinh nhờ du lịch văn hóa.
Làng Kon Tu Ma là nơi sinh sống lâu đời của hơn 50 hộ người Xơ Đăng. Những năm trước, nơi đây là một bản làng hoang sơ, vắng dấu chân người lạ, nơi nhịp sống chỉ xoay quanh nương rẫy. Tuy nhiên, chính vẻ đẹp thuần khiết chưa bị tác động bởi đô thị hóa đã trở thành điểm đến thú vị của du khách. Giờ đây, ngôi làng đang trải qua một cuộc “chuyển mình” mạnh mẽ nhờ làm du lịch.
Ông A Pa, người tiên phong làm du lịch ở làng Kon Tu Ma chia sẻ: Tôi và dân làng luôn gìn giữ những cánh rừng và tận dụng khung cảnh thiên nhiên yên bình và văn hóa truyền thống của làng để làm du lịch. Khi khách đến với làng, tôi dẫn khách khám phá những cánh rừng cổ thụ, dòng suối trong lành và những món ăn truyền thống của người Xơ Đăng.
Khác với làng Kon Tu Ma chú trọng vào cảnh quan thiên nhiên, làng Đăk Răng, xã Dục Nông, nơi cư ngụ của 110 hộ đồng bào Gié Triêng lại chọn con đường bảo tồn văn hóa, lễ hội truyền thống để làm du lịch. Các nghệ nhân trong làng đã cùng nhau bảo tồn cồng chiêng, chế tác nhạc cụ, nghề dệt truyền thống và phục dựng lại các lễ hội quan trọng, như Lễ hội ăn than, Lễ mừng lúa mới… để phục vụ khách du lịch.
Già làng Brôl Vẻ, làng Đăk Răng, xã Dục Nông tâm sự: Chúng tôi mở cửa nhà rông và vòng xoang, tổ chức lễ hội để du khách cùng sống với văn hóa của dân tộc Gié Triêng. Chỉ khi họ hiểu và yêu, thì văn hóa của mình mới trường tồn. Cũng chính việc bảo tồn văn hóa truyền thống đã củng cố niềm tự hào, ý thức bảo tồn trong cộng đồng và tạo ra sản phẩm du lịch có giá trị trải nghiệm cao, thu hút những du khách tìm kiếm chiều sâu văn hóa đích thực.
Việc phát triển du lịch văn hóa đã giúp đồng bào DTTS nhận ra giá trị vô giá của di sản mình đang nắm giữ. Cũng nhờ có du lịch, cồng chiêng, lễ hội, làn điệu dân ca và những nghề truyền thống tưởng chừng mai một nay được phục dựng và trao truyền cho thế hệ trẻ. Thu nhập từ du lịch giúp cuộc sống của đồng bào thêm no ấm.
Nghệ nhân Ưu tú A Biu (áo thổ cẩm), làng Plei Klếch, xã Ngọk Bay giới thiệu với du khách về bộ chiêng quý của người Ba Na do ông đang gìn giữĐưa du lịch văn hóa trở thành sinh kế bền vững
Câu chuyện ở làng Kon Tu Ma và làng Đăk Răng là minh chứng sống động cho giá trị của văn hóa truyền thống trong dòng chảy thời đại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa truyền thống vẫn còn sống mãi và trở thành tài sản kinh tế độc quyền, là thương hiệu của mỗi dân tộc. Và những người “giữ lửa” văn hóa lúc này chính là những người hướng dẫn viên du lịch, họ biết cách giới thiệu bản sắc của mình một cách có chọn lọc, có sự tôn trọng với truyền thống của cha ông.
Nghệ nhân Ưu tú A Biu, làng Plei Klếch, xã Ngọk Bay chia sẻ: Với diện tích khu vườn hơn 2.000m2, tôi đã tái hiện lại không gian của một ngôi làng truyền thống của người Ba Na xưa với cổng làng, nhà rông, nhà sàn, cây nêu, giọt nước và đặc biệt là không gian rừng cây xanh mát. Khi du khách đến, tôi sẽ kể cho du khách nghe những câu chuyện về đất và con người nơi đây, hòa mình cùng với âm thanh của cồng chiêng, điệu múa xoang truyền thống.
Hiện, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 8 làng du lịch cộng đồng được công nhận và nhiều điểm du lịch của cá nhân. Việc biến những tiềm năng thiên nhiên và văn hóa thành sản phẩm du lịch cộng đồng tại các vùng đồng bào DTTS là một hướng đi mang ý nghĩa lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường.
Bà Bạch Thị Mân, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi cho biết: Trong thời gian tới, tỉnh sẽ tiếp tục quan tâm đầu tư, hỗ trợ để phát triển loại hình du lịch này, bởi đây không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập, đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững, mà còn bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên hơn 14.800km², dân số hơn 2,1 triệu người, với 43 dân tộc anh em cùng sinh sống; đồng bào DTTS sinh sống chủ yếu ở khu vực phía Tây của tỉnh. Đây là kho tàng văn hóa phong phú, độc đáo, cùng với hệ sinh thái rừng, suối, thác, hồ tạo nên tiềm năng lớn để phát triển du lịch cộng đồng.