Nghịch lý giữa “thủ phủ rừng” và sinh kế dưới tán rừng ở Nghệ An:Giá trị kinh tế từ rừng vẫn thấp?! (Bài 2)
Không ít dự án quy hoạch vùng nguyên liệu triển khai cầm chừng, thậm chí gần như “án binh bất động”. Trong khi, người dân miền núi vẫn chủ yếu bán nguyên liệu thô và chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị kinh tế từ rừng.
LTS: Sở hữu diện tích rừng lớn nhất cả nước, Nghệ An từng kỳ vọng xây dựng những vùng nguyên liệu quy mô lớn để phát triển công nghiệp chế biến gỗ và tạo sinh kế bền vững cho người dân miền núi. Nhưng, phía sau những con số hàng trăm nghìn ha được quy hoạch, là thực tế chuỗi liên kết lâm nghiệp chưa phát huy hiệu quả như mong đợi và không ít lực lượng trẻ phải tha phương mưu sinh.
Loạt bài "Nghịch lý giữa "thủ phủ rừng" và sinh kế dưới tán rừng ở Nghệ An" ghi nhận thực trạng, những bất cập trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng, đồng thời đi tìm lời giải cho mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng xanh, hiện đại và bền vững.

Quy hoạch rất lớn, triển khai chưa tương xứng
Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp nhiều năm qua, Nghệ An từng đặt nhiều kỳ vọng vào việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến gỗ để nâng cao giá trị kinh tế từ rừng. Từ định hướng đó, tỉnh đã quy hoạch gần 197.000 ha vùng nguyên liệu cho nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư, liên kết sản xuất.
Trong số này, có những doanh nghiệp được giao quy hoạch với diện tích lên tới hàng chục nghìn ha như Công ty Cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm hơn 65.600 ha, Công ty Cổ phần Gỗ MDF Nghệ An hơn 47.100 ha, Công ty Cổ phần BVN Thanh Chương hơn 35.700 ha hay Công ty TNHH Biomass Fuel gần 28.850 ha…
Những con số ấy từng mở ra kỳ vọng về một hệ sinh thái lâm nghiệp hiện đại, nơi doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, tổ chức liên kết sản xuất, hình thành vùng nguyên liệu ổn định và tạo đầu ra bền vững cho người trồng rừng.
Nhưng kết quả thực tế thì sao?
Theo rà soát của Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An, nhiều doanh nghiệp đến nay vẫn chưa hoàn thiện thủ tục thuê đất, chưa đầu tư hạ tầng vùng nguyên liệu; hoặc chưa triển khai liên kết sản xuất với người dân theo phương án đã đăng ký.
Đáng nói như, Công ty Cổ phần Ván nhân tạo Tân Việt Trung và Công ty Cổ phần Kiến trúc và Nội thất Na No được quy hoạch hơn 11.000 ha vùng nguyên liệu từ giai đoạn 2013 - 2020, nhưng việc triển khai gần như chưa có chuyển biến đáng kể.

Nhiều thủ tục thuê đất chưa hoàn thành. Công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa được tổ chức thực hiện. Hạ tầng phục vụ vùng nguyên liệu cũng chưa được hình thành.
Nói cách khác, quy hoạch đã được xác lập, nhưng giá trị thực tế mang lại cho địa phương gần như chưa tương xứng.
Bà Nguyễn Thị Hoài, Chủ tịch UBND xã Thông Thụ cho biết, nhiều diện tích nằm trong vùng quy hoạch của doanh nghiệp, nhưng trên thực tế người dân vẫn tự trồng rừng, khai thác và tiêu thụ sản phẩm theo phương thức truyền thống. “Liên kết giữa doanh nghiệp với người dân gần như chưa rõ nét. Người dân vẫn tự làm, tự bán như lâu nay”, bà Hoài nói.
Diện tích quy hoạch vùng nguyên liệu của 8 nhà đầu tư được UBND tỉnh phê duyệt qua các Quyết định là 196.920,94 ha. Trong đó, rừng tự nhiên nghèo kiệt 22.502,37 ha; diện tích có rừng trồng 110.968,21 ha; diện tích đất trống lâm nghiệp 54.997,81 ha; diện tích đất khác trong lâm nghiệp 8.821,34 ha.
Không chỉ những dự án chậm triển khai, ngay cả một số doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy chế biến, cũng chưa hình thành được mạng lưới liên kết nguyên liệu theo đúng kỳ vọng ban đầu.
Công ty Cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm đã xây dựng nhà máy sản xuất ván MDF công suất 130.000 m3/năm và nhà máy ván ghép thanh công suất 12.000 m3/năm.
Tuy nhiên, việc liên doanh, liên kết với các chủ rừng trong toàn bộ vùng nguyên liệu được quy hoạch, vẫn chưa được triển khai đồng bộ.
Tương tự, Công ty Cổ phần Gỗ MDF Nghệ An được quy hoạch hơn 47.000 ha nhưng đến nay mới hoàn thành thủ tục thuê đất đối với khoảng 2.157 ha.

Một số doanh nghiệp khác mới dừng ở việc hỗ trợ cây giống, tập huấn kỹ thuật hoặc bao tiêu một phần sản phẩm. Chuỗi liên kết sản xuất khép kín từ trồng rừng đến chế biến sâu vẫn chưa thực sự hình thành.
Thực tế này, đặt ra câu hỏi về hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên đất lâm nghiệp đã được quy hoạch trong nhiều năm qua.
Người dân vẫn ở “đáy” chuỗi giá trị kinh tế từ rừng?
Điều đáng nói là trong khi nhiều địa phương vẫn thiếu nguồn lực để giao đất giao rừng cho người dân thì gần 200.000 ha vùng nguyên liệu đã được quy hoạch cho doanh nghiệp. Sau hơn một thập kỷ, không ít vùng nguyên liệu vẫn chưa hình thành như kỳ vọng.
Tại Quyết định 1141/QĐ-SNNMT-KHTC ngày 31/12/2025 về kết quả điều tra đánh giá tình hình thực hiện các quy hoạch vùng nguyên liệu gỗ lâm sản ngoài gỗ của các nhà đầu tư, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã đề nghị: Thông báo hết thời hạn quy hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt đối với các địa phương liên quan và 2 Công ty Cổ phần ván nhân tạo Tân Việt Trung và Công ty Cổ phần và Kiến trúc Na No; tiếp tục rà soát lại nhiệm vụ, diện tích và thông báo hủy bỏ không thực hiện nhiệm vụ, không thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu của các nhà đầu tư: Công ty Cổ phần Đầu tư tài chính và bất động sản Việt, Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Thành Phát, Công ty Cổ phần Lâm nghiệp Tháng Năm, Công ty Cổ phần BVN Thanh Chương.
Câu hỏi đặt ra là trách nhiệm thuộc về ai, khi tài nguyên đất rừng và đất lâm nghiệp bị bỏ lỡ cơ hội tạo ra giá trị kinh tế từ rừng, trong thời gian dài?
Không có hợp đồng liên kết dài hạn. Không có doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi sản xuất. Không có điều kiện tiếp cận các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững hay các thị trường xuất khẩu có giá trị cao. Hệ quả là giá trị thu được từ mỗi ha rừng vẫn rất thấp.
Theo ông Nguyễn Văn Long - Chủ tịch UBND xã Hữu Kiệm, giá keo nguyên liệu tại khu vực miền núi thường thấp hơn đáng kể so với khu vực đồng bằng.
“Nhiều nơi người dân chỉ thu được khoảng 40 triệu đồng/ha. Trong khi ở những vùng có hạ tầng tốt và doanh nghiệp liên kết trực tiếp, giá trị có thể cao hơn từ 25 - 30 triệu đồng mỗi ha”, ông Long cho biết.
Tương tự, ông Hà Đức Đạt - Chủ tịch UBND xã Cam Phục, cũng nói: Xã có khoảng 2.700 ha keo nguyên liệu. Lâu nay người dân tự trồng, tự bán chứ chưa thực hiện được liên doanh liên kết thành ra dễ bị ép giá.

Chi phí vận chuyển cao, đang là một trong những rào cản lớn khiến giá trị kinh tế từ rừng vẫn thấp.
Ở nhiều xã vùng sâu, đường lâm nghiệp chưa được đầu tư đồng bộ. Không ít hộ dân phải thuê nhân công kéo gỗ thủ công từ rừng ra đường lớn. Khoảng cách xa và địa hình phức tạp, khiến thương lái dễ ép giá, còn người trồng rừng phải chấp nhận bán rẻ.
Ở một khía cạnh khác, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC trên địa bàn tỉnh mới chỉ gần 40.000ha, vẫn còn khá khiêm tốn so với tổng diện tích rừng trồng hiện có.
Điều này, đồng nghĩa phần lớn sản phẩm gỗ của Nghệ An vẫn đang đứng ngoài phân khúc xuất khẩu có giá trị gia tăng cao.
Nhận thấy những bất cập kéo dài, cuối năm 2025, Sở Nông nghiệp và Môi trường Nghệ An đã đề xuất rà soát, chấm dứt hoặc hủy bỏ quy hoạch đối với nhiều doanh nghiệp chậm triển khai vùng nguyên liệu. Đây được xem là bước đi cần thiết, nhằm tránh tình trạng quy hoạch kéo dài nhưng không tạo ra giá trị thực tế.
Nếu tiếp tục tồn tại tư duy “giữ chỗ vùng nguyên liệu” mà không đầu tư, không liên kết và không tạo sinh kế cho người dân, thì tài nguyên đất đai sẽ tiếp tục bị lãng phí, còn cơ hội phát triển của miền Tây Nghệ An sẽ tiếp tục bị bỏ lỡ.
Sau nhiều năm phát triển theo chiều rộng, ngành lâm nghiệp Nghệ An đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi tư duy phát triển. Không chỉ trồng nhiều rừng hơn, mà phải tạo ra nhiều giá trị hơn từ rừng. Không chỉ thu hút doanh nghiệp vào quy hoạch, mà phải buộc doanh nghiệp tham gia sâu vào chuỗi liên kết với người dân.
Quan trọng hơn cả, người dân phải thực sự trở thành chủ thể của quá trình phát triển, thay vì chỉ là những người cung cấp nguyên liệu thô ở mắt xích cuối cùng.



