Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026. Một trong những mục tiêu của Đề án là đến năm 2030, ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể (VHPVT) của vùng đồng bào DTTS được số hóa và lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về văn hóa.
Những mục tiêu ấy cho thấy số hóa đang mở ra một hướng đi mới, đưa di sản văn hóa DTTS vượt khỏi không gian lưu giữ truyền thống để lan tỏa và phát huy giá trị bền vững. Nhưng để biến dữ liệu thành “sức sống”, thu hẹp khoảng cách tiếp cận và bảo đảm tính nguyên bản của di sản trong môi trường số vẫn là bài toán không dễ giải.
Di sản “lên sóng” - Lan tỏa song hành với nỗi lo lệch chuẩn
Lần đầu tiên di sản VHPVT được chính thức quy định trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi bổ sung năm 2024), đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của toàn xã hội về giá trị của loại hình di sản này. Từ đó đến nay, cùng với sự đầu tư của Nhà nước, toàn xã hội đã chung tay phục dựng, gìn giữ và phát huy hiệu quả kho tàng di sản VHPVT.
Theo thống kê của Cục văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), trong khoảng 62.283 di sản VHPVT đã được kiểm kê của cả nước, hiện nay có 571 di sản VHPVT được đưa vào Danh mục di sản VHPVT quốc gia, trong đó có nhiều di sản của đồng bào DTTS.
Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2025, đến năm 2008, di sản này được chuyển sang Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.Đặc biệt, trong 17 di sản VHPVT được UNESCO ghi danh có ít nhất 6 di sản gắn liền trực tiếp với văn hóa của đồng bào DTTS hoặc cộng đồng dân cư đặc thù tại các vùng miền.
Đây là những con số cho thấy sự đa dạng, phong phú của di sản VHPVT Việt Nam; đồng thời khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với việc phát triển di sản VHPVT Việt Nam và nhân loại, trong đó có di sản văn hóa của đồng bào các DTTS.
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, nhưng công tác bảo tồn di sản VHPVT đồng bào DTTS còn nhiều vấn đề cấp bách cần khắc phục, những nhu cầu bức thiết cần phải giải quyết; nhiều di sản chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học.
Theo Ts. Bàn Tuấn Năng - Viện Văn hóa và Phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), các giá trị văn hóa tiêu biểu của các dân tộc đang đứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa hoặc do tác động mặt trái của cơ chế thị trường.
“Trong bối cảnh toàn cầu hóa, văn hóa là một lĩnh vực dễ bị tổn thương, trong đó bản sắc văn hóa, văn hóa truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả, nhất là văn hóa các DTTS”, ông Năng khuyến cáo.

Triển khai Dự án 6 thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, cả nước đã tổ chức bảo tồn 124 lễ hội truyền thống đặc sắc của đồng bào các dân tộc, xây dựng 36 mô hình bảo tồn văn hóa DTTS, hỗ trợ thành lập và duy trì hoạt động cho 695 câu lạc bộ văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống tại các thôn, bản vùng đồng bào DTTS.
(Báo cáo tổng kết thực hiện Dự án 6 giai đoạn 2021 - 2025 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
Nguy cơ di sản văn hóa bị tổn thương càng cao hơn trong thời đại công nghệ số. Bên cạnh mặt tích cực là lan tỏa nhanh, trên diện rộng thì trên môi trường truyền thông số, nhiều di sản VHPVT đã và đang bị biến tướng, sai lệch.
Lấy di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên làm dẫn chứng, trên mạng xã hội có nhiều video giới thiệu, hướng dẫn, trình diễn cồng chiêng. Nhưng một số video tách cồng chiêng khỏi ngữ cảnh lễ nghi, dẫn đến nguy cơ “phi thiêng hóa” di sản; một số video hướng dẫn đánh cồng chiêng nhưng thiếu kiến thức chuyên môn khiến kỹ thuật đánh bị sai lệch…
Theo Ts. Bàn Tuấn Năng, việc phổ biến văn hóa truyền thống trong thời đại 4.0 hiện nay trở nên cần thiết vô cùng. Tuy nhiên, công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa dân tộc vẫn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa theo kịp đời sống.
Số hóa di sản đòi hỏi cách tiếp cận vượt ra ngoài lưu trữ
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số đặt ra yêu cầu phải đổi mới cách tiếp cận trong cách thức bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, nhất là VHPVT. Việc đưa di sản lên không gian số không chỉ tạo ra những sản phẩm để quảng bá mà còn phải “định vị” những chuẩn mực vốn có của di sản để vừa bảo tồn nguyên dạng, vừa đưa di sản trở thành một phần năng động trong đời sống đương đại.
Yêu cầu này đã và đang được triển khai quyết liệt, nhất là khi Chương trình số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2026/QĐ-TTg. Một trong những mục tiêu đặt ra, là bảo đảm 100% các bảo vật quốc gia, các di sản trong Danh mục di sản VHPVT quốc gia được số hóa, ưu tiên số hóa theo nhu cầu sử dụng của xã hội.
UNESCO đưa di sản Nghệ thuật làm gốm của người Chăm vào Danh sách di sản VHPVT cần bảo vệ khẩn cấp tháng 11/2022.Hiện hầu hết địa phương đã triển khai các dự án sưu tầm, phục dựng và số hóa di sản văn hóa và đã đạt được một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên, phần lớn hoạt động chuyển đổi số trong bảo tồn di sản VHPVT hiện mới dừng ở mức số hóa tĩnh - tức là lưu trữ dữ liệu dưới dạng hình ảnh, âm thanh, video…
Đơn cử, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam là một trong những đơn vị tiên phong bảo tồn di sản VHPVT các dân tộc Việt Nam, nhưng kết quả số hóa vẫn còn khiêm tốn. Hiện 5.688 băng từ video các loại đang lưu trữ, Viện mới số hóa được 1.154 cuốn, trong 91.648 ảnh mới số hóa được khoảng 40.000 ảnh,…

Di sản VHVT là tri thức, kỹ năng, tập quán, biểu đạt văn hóa cùng đồ vật, đồ tạo tác, không gian liên quan được cộng đồng, nhóm người, cá nhân thực hành, trao truyền qua nhiều thế hệ và hình thành nên bản sắc văn hóa của họ, không ngừng được trao truyền, bảo vệ, tái tạo, sáng tạo, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của di sản văn hóa.
(Khoản 1, khoản 27, Điều 3, Luật Di sản văn hóa sửa đổi năm 2024)
Theo họa sỹ Nguyễn Thế Sơn, giảng viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật (Đại học Quốc gia Hà Nội), số hóa di sản là một quy trình đồng bộ, bắt đầu từ kiểm kê, thu thập thông tin, chuẩn hóa dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu, đến việc ứng dụng các công nghệ số.
“Số hóa di sản không nên chỉ dừng lại ở mục tiêu lưu trữ, mà cần hướng tới khai thác và phát huy giá trị. Trong bối cảnh hiện nay, di sản hoàn toàn có thể trở thành một nguồn lực kinh tế quan trọng nếu được đặt trong môi trường số”, ông Sơn nói.
Gỡ “nút thắt” để “kích hoạt” giá trị di sản
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định rõ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là xu hướng tất yếu, đồng thời là động lực quan trọng để phát huy giá trị di sản. Việc tiếp cận tài nguyên văn hóa theo hướng toàn diện, hiện đại, gắn bảo tồn với phát triển bền vững sẽ góp phần biến di sản thành tài sản, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội.
Định hướng trong Nghị quyết số 80-NQ/TW đã được cụ thể hóa trong Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, tại Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026. Đối với di sản VHPVT vùng đồng bào DTTS, Đề án phấn đấu đến năm 2030, ít nhất 80% di sản được số hóa và lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về văn hóa.
Điều này cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong nỗ lực “kích hoạt” giá trị di sản VHPVT vùng đồng bào DTTS. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, theo Ts. Bàn Tuấn Năng, các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi sẽ gặp nhiều thách thức khi còn khá lúng túng trong chuyển đổi số.
“Nguyên nhân là do thiếu cơ sở vật chất hạ tầng, trang thiết bị còn nghèo nàn, nguồn nhân lực thiếu và yếu. Bên cạnh đó, cách làm còn nhỏ lẻ, tự phát, chưa đồng bộ, chưa xây dựng được hệ sinh thái phần mềm chung hệ thống dữ liệu để áp dụng xuyên suốt”, ông Năng phân tích.
Xoè Thái là di sản VHPVT đại diện của nhân loại đươc UNESCO ghi danh tháng 4/2022.Theo Ts Năng, trong bối cảnh nguồn kinh phí đầu tư cho chuyển đổi số còn hạn hẹp, một số địa phương, một số lĩnh vực vẫn còn lúng túng, chưa tìm ra vấn đề cốt lõi cần ưu tiên dẫn đến đầu tư dàn trải và hiệu quả không rõ rệt.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Trịnh Ngọc Chung, Cục trưởng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, cho rằng, lĩnh vực văn hóa dân tộc hiện chưa có luật riêng. Điều này gây khó khăn trong quản lý và thu hẹp khả năng huy động nguồn lực phát triển văn hóa, ảnh hưởng đến xây dựng chính sách ưu đãi về thuế và hỗ trợ tài chính để phục hồi, gìn giữ các giá trị văn hóa của đồng bào DTTS.
Những “nút thắt” này kỳ vọng được tháo gỡ từ Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Chính phủ, được ban hành tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/2/2026. Trong Chương trình hành động, Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với các lĩnh vực còn điều chỉnh bằng văn bản dưới luật hoặc chưa được thể chế hóa, như: Văn hóa dân tộc, văn hóa quần chúng, tuyên truyền cổ động và quản lý văn hóa trên môi trường số.
Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới, bảo đảm bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án đã được phê duyệt.
Đồng thời, đổi mới cơ chế quản lý tài chính, phân bổ ngân sách cho hoạt động văn hóa theo hướng đầu tư trọng điểm, gắn với hiệu quả đầu ra; tăng đầu tư công lĩnh vực văn hóa cơ sở, di sản văn hóa, đổi mới sáng tạo, đào tạo, công nghiệp văn hóa.
Số hóa di sản VHPVT vùng đồng bào DTTS không chỉ là một nhiệm vụ kỹ thuật, mà là một lựa chọn phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, nếu di sản không được đưa lên không gian số một cách bài bản và có định hướng, nguy cơ mai một sẽ ngày càng rõ rệt.
Đường đã mở, nhưng để đi được đến đích, cần một cách tiếp cận đồng bộ hơn, từ thể chế, nguồn lực đến tư duy phát triển, để di sản không chỉ được lưu giữ, mà còn trở thành nguồn lực cho tương lai.
Trong Nghị quyết số 30/NQ-CP, Chính phủ yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Trong đó, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được giao cùng với các bộ, ngành, địa phương triển khai các kế hoạch, chương trình, hoạt động tuyên truyền thường xuyên nhằm xây dựng môi trường thông tin trong sạch, định hướng thị hiếu lành mạnh, tiến bộ, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc ra thế giới, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó văn nghệ sĩ, trí thức, người làm công tác văn hóa, nghệ nhân dân gian, Người có uy tín, có tầm ảnh hưởng, chức sắc tôn giáo giữ vai trò quan trọng, gương mẫu đi đầu, là hạt nhân lan tỏa.